Truy cập nội dung luôn

Album ảnh Album ảnh

Slideshow Image 1 Slideshow Image 1

Chi tiết tin

BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2014 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2015
03/12/2018

BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2014 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2015

Phần I

KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2014

            Thực hiện Nghị quyết số 59/2013/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân huyện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, ngay từ đầu năm Ủy ban nhân dân huyện đã tập trung chỉ đạo các ngành, các xã, thị trấn Vĩnh Bình chủ động triển khai kế hoạch hành động số 08/KH-UBND ngày 22/01/2014 của Ủy ban nhân dân huyện thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ. Với sự thống nhất và quyết tâm cao trong chỉ đạo của Huyện ủy, điều hành của Ủy ban nhân dân huyện, sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân huyện cùng sự nổ lực của vác ngành, các xã, thị trấn, các doanh nghiệp và nhân dân nên tình hình kinh tế xã hội năm 2014 chuyển biến tích cực, một số lĩnh vực tăng trưởng khá; các lĩnh vực văn hóa xã hội được quan tâm phát triển ổn định; quốc phòng an ninh được giữ vững. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi tình hình kinh tế xã hội của huyện vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức đó là: sản xuất nông ngư nghiệp vẫn còn ảnh hưởng bởi thời tiết, dịch bệnh; giá cả hàng hoá dịch vụ luôn biến động tăng; nhất là vật tư nông nghiệp, xăng dầu, công lao động..., chưa thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp; các loại bệnh trên người vẫn chưa giảm, đặc biệt là bệnh sốt xuất huyết và bệnh tay chân miệng, quay bị. tình hình tệ nạn xã hội, nhất là cờ bạc, đá gà còn xảy ra nhiều nơi; những khó khăn trên đã phần nào ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư.

            Ước khả năng thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 như sau:

A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU NĂM 2014

1- Các chỉ tiêu về kinh tế:

- Tốc độ tăng GDP (theo giá cố định năm 1994) đạt 101,89% so kế hoạch; tăng 9,95% so năm 2013 (Nghị quyết tăng 7,05%, vượt).

- GDP theo giá hiện hành 2.783 tỷ 110 triệu đồng (Nghị quyết 2.717,029 tỷ,  vượt); thu nhập bình quân 21 triệu 770 nghìn đồng/người/năm, tương đương 1.027 USD/người/năm.

- Cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành): Kế hoạch        Thực hiện

            - Khu vực 1:                                        35,52%           36,93%

            - Khu vực 2:                                        16,24%           16,02%

            - Khu vực 3:                                        48,24%           47,05%

- Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn huyện (giá hiện hành) 427 tỷ 047 triệu đồng (Nghị quyết 364 tỷ 830 triệu đồng, đạt 117,05%); tăng 25,30% so năm 2013. Trong đó vốn đầu tư trong các khu vực sản xuất là 337 tỷ 568 triệu đồng, đầu tư từ ngân sách 89 tỷ 475 triệu đồng.

 - Sản lượng cây lương thực có hạt 181.059 tấn (Nghị quyết 170.522 tấn, vượt); trong đó sản lượng lúa 180.399 tấn và bắp 660 tấn.

 - Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng (theo giá cố định 1994) là 361 tỷ 481 triệu đồng (Nghị quyết 361 tỷ 481 triệu đồng, đạt 100,00%); trong đó giá trị sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp địa phương là 41 tỷ 100 triệu đồng, đạt 100,24% kế hoạch, tăng 5,17% so năm 2013.

 - Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ là 1.986 tỷ 177 triệu đồng, đạt  96,24% kế hoạch, (Nghị quyết 2.063,849 tỷ đồng, không đạt); tăng  22,44%  so năm 2013.

  - Tổng thu ngân sách từ kinh tế địa phương 52 tỷ 197 triệu đồng đạt 117,85% so nghị quyết, giảm 1,17% so năm 2013.

 - Tổng chi ngân sách nhà nước 287 tỷ 538 triệu đồng, bằng 100,64% so dự toán Hội đồng nhân dân huyện và tăng 2,56% so cùng kỳ năm 2013; trong đó chi đầu tư phát triển 65 tỷ 455 triệu đồng, chi thường xuyên 221 tỷ 783 triệu đồng.

 2- Các chỉ tiêu xã hội:

- Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 0,60%, giảm tỉ lệ sinh 0,02% (Đạt).

 - Tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh dưới 0,01% (Đạt).

 - Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi là 12,10% (Đạt).

  - Duy trì chuẩn quốc gia về chống mù chữ- phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở (Đạt).

 - Tạo việc làm mới cho 1.253 lao động (Nghị quyết 2.500 lao động, không đạt) trong đó xuất khẩu 22 lao động (Nghị quyết 13 lao động, vượt).

  - Số hộ thoát nghèo trong năm 524 hộ (Nghị quyết 500 hộ, vượt), tỉ lệ hộ nghèo 4,11%.

3- Chỉ tiêu môi trường:

 - Tỉ lệ dân cư sử dụng nước sạch bình quân 95,46%, trong đó dân cư thành thị sử dụng nước sạch 100%, dân cư nông thôn sử dụng nước sạch 95% (Đạt).

 - Tỉ lệ chất thảy rắn thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn 83% (Nghị quyết 90%, không đạt).

B. KẾT QUẢ TRÊN TỪNG LĨNH VỰC

I. VỀ KINH TẾ

1. Sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản

a) Trồng trọt

- Cây lương thực có hạt: Diện tích gieo trồng 32.236 ha, đạt 102,01% kế hoạch, giảm 0,77% so cùng kỳ năm 2014; sản lượng 188.854,85 tấn, đạt 110,45% kế hoạch, tăng 6.918,29 tấn so với năm 2013; trong đó:

+ Cây lúa: Thực hiện 32.026 ha, đạt 101,99% kế hoạch, giảm 0,65% so cùng kỳ năm 2013 (giảm 208 ha), sản lượng 188.119,85 tấn (tăng 7.065,99 tấn). Đã thu hoạch 21.416 ha, sản lượng 135.069,85 tấn; ước sản lượng vụ Thu Đông 2014 là 53.050 tấn.

+ Cây bắp: Trồng 210 ha, sản lượng qui thóc 735 tấn, đạt 111,36% kế hoạch; bằng 83,27% so cùng kỳ năm 2013 (giảm 147,7 tấn).

- Cây chất bột: Trồng 50 ha, sản lượng 800,9 tấn; đạt 102,03% kế hoạch, bằng 87,50%  so cùng kỳ năm 2013 (giảm  114,38 tấn );

- Màu thực phẩm: Trồng 4.850 ha; đạt 102,06% kế hoạch (giảm 254,5 ha), sản lượng 89.752,55 tấn, đạt 105,35% kế hoạch; bằng 90,25% so cùng kỳ năm 2013 (giảm 114,38 tấn).

b) Kinh tế vườn: Toàn huyện có 2.892,02 ha cây lâu năm, đạt 102,84% kế hoạch (tăng 79,71 ha so năm 2013), sản lượng thu hoạch 46.600 tấn, đạt 100% kế hoạch (bằng năm 2013). Trong đó: cây dừa 1.977 ha, sản lượng thu hoạch 15.600 tấn, đạt 111,43% kế hoạch. Vườn cây ăn trái 852,02 ha, sản lượng thu hoạch 31.000 tấn, đạt 106,4%  kế hoạch (Trong đó có 172,4 ha cây Thanh Long).

c) Chăn nuôi: Theo kết quả điều tra toàn huyện hiện có 87.587 con heo, đạt 104,77% kế hoạch (tăng 3.660 con so với năm 2013); 13.115 con bò, đạt 104,92% kế hoạch (tăng 472 con so với năm 2013); 715.023 con gia cầm, đạt 106,4% kế hoạch (giảm 369 con so với năm 2013). Công tác tiêu độc, sát trùng chuồng trại; phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được tập trung thực hiện đầy đủ và đồng bộ các biện pháp nên đã khống chế được các loại dịch bệnh. Ngành Thú y đã tổ chức tiêm phòng 99.658 con heo, 8.785 con trâu bò, 450.302 con gia cầm.

Bệnh cúm gia cầm H5N1 đã xảy ra ở 09 hộ gia đình tại xã Đồng Sơn, Long Vĩnh, Vĩnh Hựu, Thành Công, Thạnh Nhựt; với tổng đàn 10.867 con, tiêu hủy  10.867 con; bệnh long mồm lỡ móng trên bò xảy ra ở 02 hộ gia đình tại thị trấn Vĩnh Bình, tiêu hủy 04 con bò.

d) Nuôi và khai thác thủy sản: Diện tích nuôi 895 ha, đạt 107,83% kế hoạch, tăng 41 ha so với năm 2013; tổng sản lượng thu hoạch 5.847,5 tấn, đạt 112,34% kế hoạch; trong đó: Nuôi nước ngọt, nước lợ 5.517,5 tấn, khai thác nội địa 155 tấn, khai thác biển 175 tấn.

đ) Trồng cây nhân dân: Hưởng ứng phong trào trồng cây nhớ ơn Bác, toàn huyện trồng được 50.660 cây xanh (sao, bạch đàn, so đũa...) đạt 101,32% kế hoạch.

e) Các hoạt động phục vụ sản xuất như Bảo vệ thực vật, Khuyến nông, khuyến ngư được tập trung cao, làm tốt công tác điều tra, xác định đúng đối tượng dịch hại và hướng dẫn nông dân ứng dụng tốt các biện pháp phòng trị; từ đó làm giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra. Đã tổ chức 134 cuộc tập huấn, hội thảo về các biện pháp, kỹ thuật canh tác lúa, màu, cây ăn trái, phòng trị dịch hại, chăn nuôi heo, nuôi thủy sản, với 4.860 lượt người tham dự.

Tình hình sản xuất nông - ngư nghiệp năm 2014 trong điều kiện thời tiết khí hậu tương đối thuận lợi; công tác chỉ đạo sản xuất được triển khai một cách đồng bộ, kịp thời, chặt chẽ; các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiếp tục được triển khai như: chương trình "3 giảm 3 tăng", "1 phải 5 giảm", "áp dụng công nghệ sinh thái để quản lý rầy nâu và bệnh virus trên lúa", sử dụng giống xác nhận, xuống giống tập trung đồng loạt né rầy, chương trình “Cùng nông dân ra đồng”, cơ giới hóa trong sản xuất lúa và sau thu hoạch… được nông dân tiếp thu và áp dụng vào sản xuất đã góp phần tăng năng suất, sản lượng, chất lượng, giảm chi phí và giá thành sản phẩm. Các chính sách hỗ trợ nông dân trong công tác phòng chống dịch bệnh, thu mua tạm trữ lúa, hỗ trợ đất trồng lúa đã giúp nông dân ổn định sản xuất trong những lúc gặp khó khăn. Các công trình thủy lợi được đầu tư phát huy tác dụng đảm bảo đủ nước cung cấp cho sản xuất và dân sinh, đem lại hiệu quả thiết thực.

  Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn như: Tình hình dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi vẫn còn tiềm ẩn, bệnh cúm gia cầm đã xảy ra rãi rác trên các xã. Giá cả hàng hóa dịch vụ luôn biến động tăng, nhất là vật tư nông nghiệp, công lao động, nên chi phí giá thành cao; giá lúa giảm mạnh khi thu hoạch rộ nên nông dân lãi không nhiều, phần nào ảnh hưởng đến thu nhập. Vụ Hè thu 2014 nắng nóng kéo dài nên một số diện tích bị chết phải sạ lại; một số khu vực người dân phải bơm chuyền nhiều cấp để lấy nước phục vụ cho việc gieo sạ.

2. Phát triển hạ tầng nông thôn

a) Giao thông

Duy tu sửa chữa đường huyện 13, 18, 16, 15 (đoạn 1) 19, bến xe, đường vào bãi rác Long Bình, đường huyện 15 (đoạn 2), dường huyện 17, đường Bình Hưng, cắt tỉa cây xanh, vệ sinh lòng lề đường đô thị, cắm bổ sung biển báo hiệu đường bộ trên các tuyến đường với kinh phí 6 tỷ 797 triệu đồng.

Về giao thông nông thôn: Tổng số công trình theo kế hoạch là 42 công trình; trả năm 2013 là 08 công trình, thi công năm 2014 là 34 công trình. Đến nay hoàn thành nghiệm thu đưa vào sử dụng 33/34 công trình; đang thi công 01 công trình. Tổng vốn đầu tư của 34 công trình là 12, tỷ 438 triệu đồng, trong đó: Vốn chương trình mục tiêu nông thôn mới 3 tỷ 090 triệu đồng, vốn phân cấp 3 tỷ 435 triệu đồng, vốn cộng đồng 3 tỷ 903 triệu đồng, vốn khác 40 triệu đồng, ghi nợ năm 2015 là 1 tỷ 930 triệu đồng và vốn tồn năm 2013 chuyển sang 40 triệu đồng. Huy động vốn nhân dân đóng góp đến nay được 3 tỉ 435 triệu đồng/ 4 tỉ 088 triệu đồng, đạt 84,03% so kế hoạch.

b) Thủy lợi

       Bằng nguồn vốn phòng chống lụt bão, chống hạn mặn, thủy lợi phí và hỗ trợ sản xuất lúa nước đã thi công 28 công trình thủy lợi, tổng vốn 8 tỷ 209 triệu đồng. Vận động nhân dân đối ứng với nguồn kinh phí tỉnh hỗ trợ triển khai nạo vét đưa vào sử dụng 20 công trình kênh nội đồng, tổng chiều dài 14.343 m, khối lượng 49.075 m3.

     Thực hiện tốt công tác ngăn mặn, thường xuyên theo dõi nguồn nước, vận hành các cống hợp lý, đảm bảo đủ nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt. Tiến hành giải toả chướng ngại vật lòng kênh và trục vớt lục bình các tuyến kênh cấp 2 và kênh cấp 3 nhằm khai thông dòng chảy, tiêu úng, dẫn nước phục vụ tốt cho sản xuất.

c) Đầu tư, cải tạo lưới điện nông thôn

Ngành điện thi công 01 tuyến trung thế, 133 tuyến hạ thế (trong đó 117 tuyến hạ thế từ vốn tài trợ ngân hàng Tái thiết Đức - KFW). Lắp đặt mới 1.274 điện kế chính, đạt 212,3% kế hoạch; hiện toàn huyện có 34.931 hộ sử dụng điện, tỷ lệ đạt 100%; tỷ lệ hộ có điện kế chính khu vực đô thị 100%, khu vực nông thôn 92,12%.

d) Nước sinh hoạt nông thôn

   Tổ chức kiểm tra nâng chất lượng hoạt động các trạm cấp nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện; lập thủ tục bàn giao trạm cấp nước Xóm Thủ - Bình Tân cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên cấp nước sinh hoạt nông thôn Tiền Giang; cải tạo nâng cấp 03 trạm cấp nước Long Bình, Thạnh Trị và Hòa Bình xã Đồng Thạnh, Điều tra bộ chỉ số nước sạch về vệ sinh môi trường năm 2014; kết quả toàn huyện có 94,60% số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh.

3. Xây dựng nông thôn mới

Thẩm định Đề án xây dựng nông thôn mới 06 xã: Vĩnh Hựu, Đồng Thạnh, Thạnh Nhựt, Thạnh Trị, Yên Luông và Bình Tân.

Qua kiểm tra đánh giá, tiến độ thực hiện các tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2014 của các xã sau: xã Bình Nhì đạt 14/19 tiêu chí; xã Vĩnh Hựu đạt 12/19 tiêu chí; xã Thạnh Nhựt đạt 10/19 tiêu chí; xã Long Vĩnh đạt 09/19 tiêu chí; Thạnh Trị, Thành Công, Đồng Sơn, Đồng Thạnh, Bình Phú đạt 08/19 tiêu chí; Bình Tân, Long Bình, Yên Luông đạt 07/19 tiêu chí.

4. Phát triển kinh tế hợp tác

        Vận động thành lập mới 01 Hợp tác xã rau an toàn Thạnh trị, tính đến nay toàn huyện có 7 Hợp tác xã (trong đó 05 hợp tác xã hoạt động trên lĩnh vực nông nghiệp và nước sinh hoạt, 01 Hợp tác xã vận tải và 01 Quỹ tín dụng nhân dân), 32 tổ hợp tác; do được thường xuyên kiểm tra, củng cố nâng chất nên các Hợp tác xã hoạt động khá hiệu quả, giải quyết một phần yêu cầu đầu vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cho xã viên; đồng thời phối hợp các cơ quan chuyên môn làm tốt công tác khuyến nông góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật của xã viên, đáp ứng cho yêu cầu sản xuất ngày càng cao.

      Tuy nhiên, kinh tế tập thể hiện nay vẫn còn nhiều mặt yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của sản xuất và xã hội. Hiệu quả hoạt động của một ít Hợp tác xã chưa cao, chưa thật sự là cầu nối giữa xã viên Hợp tác xã; do vậy chưa là điểm thu hút đối với nông dân, làm hạn chế sự phát triển mô hình kinh tế tập thể.

5. Tài nguyên và môi trường

- Tài nguyên:

Kiểm tra thực hiện quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất cấp xã; tiếp tục chỉnh lý biến động đất đai năm 2013-2014 được 14.490 hồ sơ; tổng đến nay đã chỉnh lý 23.466/29.080 hồ sơ; đạt tỷ lệ 80,69%.

Tiếp nhận 2.861 hồ sơ chuyển nhượng, tặng cho và thừa kế quyền sử dụng đất; 458 hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng; giải quyết xong 3.681 giấy chứng nhận cho những hộ, gia đình cá nhân thực hiện xong thủ tục.

Cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dự án VLAP  được 1.588 giấy, đến nay cấp đổi được 16.432/22.329 giấy đạt 73,59% số giấy đã in; hiện còn tồn 5.897 giấy; trong đó: đủ điều kiện cấp 1.675 giấy; không đủ điều kiện thu hồi lưu trữ 4.222 giấy. Nhìn chung tiến độ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở các xã tiến độ chậm, nguyên nhân do cán bộ địa chính xã không phân tích được giấy không còn phù hợp về thời gian, không đủ điều kiện cấp.

Quyết định 03 trường hợp thu hồi đất để xây dựng các công trình (thực hiện dự án mở rộng kênh Chợ Gạo trường Mẫu giáo Vĩnh Hựu, công trình Cầu kinh 14) với diện tích 70.415,9 m2..

- Môi trường: Thường xuyên kiểm tra việc thu, gom rác ở các chợ, khu dân cư, về ô nhiễm môi trường các điểm chăn nuôi gia súc, gia cầm và các điểm kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện; hướng dẫn lập thủ tục cam kết về môi trường đối với 23 cơ sở sản xuất kinh doanh và 110 cơ sở dẫn dụ chim yến.

Nhìn chung, công tác quản lý nhà nước về đất đai, bảo vệ môi trường được tăng cường; việc quản lý, sử dụng đất đai đúng theo quy hoạch và quy định của pháp luật. Tình trạng gây ô nhiễm môi trường được hạn chế, ý thức bảo vệ môi trường của người dân từng bước được nâng lên. Các giao dịch của người dân trên lĩnh vực đất đai được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, cơ bản đảm bảo thời gian theo quy định góp phần cải cách một bước các thủ tục hành chính; việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông trên lĩnh vực đất đai có chuyển biến tích cực, các thủ tục hành chính không cần thiết được bãi bỏ, tuy nhiên cũng còn một số hồ sơ giải quyết chậm so thời gian quy định.

6. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:

            a) Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng (theo giá cố định 1994) là 361 tỷ 481 triệu đồng, đạt 100,00% kế hoạch, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp địa phương là 41 tỷ 100 triệu đồng, đạt 100,24% kế hoạch, tăng 5,17% so năm 2013.

Sản xuất công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp ổn định và có bước phát triển, đáp ứng được nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, tăng lượng hàng hóa lưu thông, từng bước nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn, nhu cầu đầu tư phát triển ngành trên địa bàn ngày càng cao nhưng chưa có giải pháp tích cực để huy động vốn trong và ngoài tỉnh; các doanh nghiệp còn thiếu vốn để đầu tư mở rộng sản xuất; việc kêu gọi và thu hút đầu tư còn chậm do cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ.

7. Thương mại, dịch vụ

- Thương mại:

Tổng giá trị sản xuất toàn ngành (giá cố định năm 1994) là 1.109,596 tỉ đồng đạt 100,00% so kế hoạch, tăng 17,66% so năm 2013).

Lượng hàng hóa lưu thông dồi dào và được bày bán trên thị trường với số lượng lớn, trên 90% là hàng sản xuất trong nước, phong phú về bao bì, nhãn mác, ...; giá cả ổn định không tăng đột biến, đáp ứng nhu cầu mua sắm, sinh hoạt, tiêu dùng của người dân trên địa bàn huyện; đặc biệt thực hiện chương trình bình ổn giá và người Việt Nam dùng hàng Việt Nam, huyện đã phối hợp với Sở Công thương tổ chức cho các siêu thị, Hợp tác xã đưa hàng về bán tại các chợ nông thôn.

Thực hiện tốt công tác kiểm tra thị trường nội địa, chống gian lận thương mại. Trong năm, tổ chức kiểm tra thị trường theo 04 phương án của Ban chỉ đạo 127/TG tỉnh trên các lĩnh vực: giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, niêm yết giá, vệ sinh an toàn thực phẩm, phương tiện đo lường, đồ chơi trẻ em nguy hiểm, quy chế nhãn hàng hóa các mặt hàng thức ăn gia súc, thức ăn thủy sản, bánh kẹo, phân bón, xăng dầu, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hàng giả, hàng kém chất lượng,…Kiểm tra 283 vụ; phát hiện và xử lý 105 vụ vi phạm, phạt tiền 288 triệu 564 nghìn đồng;

- Vận tải: Phục vụ tốt nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách trên địa bàn, trong năm vận chuyển 170.651 tấn hàng hóa, 1.216.101 lượt hành khách; luân chuyển 9.463.211 tấn/km, 34.419.992 lượt hành khách/km.

- Bưu chính, viễn thông: Đảm bảo về công tác thông tin liên lạc và nhu cầu giao dịch của khách hàng; chuyển phát thư, báo kịp thời, đúng lịch trình; chất lượng phục vụ của tổng đài, các bưu cục và các điểm bưu điện văn hoá xã ngày càng tốt hơn. Mật độ điện thoại cố định và Gphone trên địa bàn có xu hướng giảm do hiện nay các hộ dân chủ yếu sử dụng điện thoại di động.

- Về hạ tầng công nghệ thông tin; triển khai nâng cấp mạng nội bộ khu vực trụ sở Ủy ban nhân dân huyện; áp dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành trên phạm vi toàn huyện, với       tài khoản sử dụng, đã góp phần tăng lượng văn bản điện tử trong trao đổi giữa các cơ quan nhà nước; xây dựng và đưa vào vận hành cổng thông tin điện tử huyện.

8. Thu - chi ngân sách .

- Ước tổng thu ngân sách huyện là 52 tỷ 082 triệu đồng, đạt 119,29% so dự toán tỉnh giao, bằng 117,85% so Nghị quyết Hội đồng nhân dân huyện, và giảm 1,7% so cùng kỳ năm trước (Nếu loại trừ nguồn thu cấp quyền sử dụng đất 13 tỷ đồng; tổng thu từ ngân sách huyện còn 39 tỷ 082 triệu đồng, đạt 98,52% chỉ tiêu thi đua tỉnh giao).

- Ước tổng chi ngân sách nhà nước là 280 tỷ 354 triệu đồng, đạt 143,65% so dự toán tỉnh giao, bằng 97,13% so Nghị quyết Hội đồng nhân dân huyện; tăng 30,22% so năm 2013; trong đó chi đầu tư phát triển 68 tỷ 422 triệu đồng (chuyển về Phát triển Quỹ đất tỉnh là 7 tỷ 992 triệu đồng).

            Kho bạc Nhà nước huyện thực hiện tốt công tác quản lý các nguồn thu, cấp phát và thanh toán chi ngân sách nhà nước kịp thời, chặt chẽ cho các đơn vị giao dịch đúng theo Luật ngân sách quy định.

9. Công tác tín dụng

Các Chi nhánh và Phòng giao dịch các ngân hàng trong huyện đã tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ và Chỉ thị 01/CT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nên hoạt động có bước phát triển, thực hiện tốt chính sách tiền tệ, mở rộng hệ thống dịch vụ, nên chỉ tiêu hoạt động có tăng trưởng so năm 2013, đặc biệt là dư nợ tín dụng dã tạo thuận lợi cho khách hàng đầu tư sản xuất kinh doanh.

- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Trong năm, Huy động nội tệ 836 tỷ 109 triệu đồng đạt 104,51% kế hoạch; vốn huy động ngoại tệ 390.573 USD đạt 104,15% kế hoạch; tổng dư nợ 798,6 tỷ đồng; nợ xấu 1,38 tỷ  đồng, tỷ lệ 1,31% so tổng dư nợ.

- Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội: Doanh số cho vay trong năm 56 tỷ 210 triệu đồng; doanh số thu nợ 49 tỷ 870 triệu đồng; tổng dư nợ 124 tỷ 302 triệu đồng; số huy động tiền gửi tiết kiệm 2 tỷ 771 triệu đồng;  nợ xấu 1 tỷ 848 triệu đồng, tỷ lệ 1,49% so tổng dư nợ.

10. Đầu tư xây dựng cơ bản .

            Triển khai và thực hiện 64 công trình (công trình năm 2013 chuyển tiếp 08, công trình triển khai mới 56). Giá trị xây lắp 173 tỷ 013 triệu đồng; giao vốn kế hoạch năm 2014 là 88 tỷ 788 triệu đồng; khối lượng thực hiện 99 tỷ 134 triệu đồng; đã cấp phát cho nhà thầu 88 tỷ 688 triệu đồng; khả năng hoàn thành nghiệm thu đưa vào sử dụng 58 công trình; chuyển tiếp năm 2015 là 04 công trình (đường huyện 16 C, trường Trung học cơ sở Long Bình, Mẫu giáo Thành Công, Mẫu giáo Long Vĩnh). Gồm:

a) Công trình chuyển tiếp năm 2013: 08 công trình, gồm:

- Công trình vốn ngân sách tỉnh: 01 công trình (đường huyện 20).

- Vốn Mầm non, Y tế, thể dục thể thao: 02 công trình (Mẫu giáo Thạnh Nhựt, Tiểu học Đồng Sơn 2).

- Công trình vốn thuỷ lợi phí: 05 công trình (kênh ranh Bình Nghị, kênh N8 - Bình Phú, cống kênh Sáng và kênh Sườn kết hợp với làm đường giao thông xã Đồng Sơn, kênh lộ mới Bình Nhì)

b) Công trình năm 2014: gồm 54 công trình, gồm:

- Công trình vốn ngân sách tỉnh: 03 công trình (Nhà làm việc khối Đảng, Đường huyện 16 C, trường Trung học cơ sở Long Bình).

- Vốn Trái phiếu Chính phủ xây dựng nông thôn mới: 04 công trình (đường số 4- đoạn 2, đường Bắc kênh Tham Thu- đoạn 2, đường Tám Đồn, đường Hai Diệu).

- Vốn Mầm non, Y tế, thể dục thể thao: 06 công trình (Sân bóng đá Bình Tân, trường Tiểu học Đồng Sơn 2 (Khu A), Mẫu giáo Bình Tân, Mẫu giáo Thành Công, Mẫu giáo Long Vĩnh, trạm Y tế xã Đồng Thạnh)

- Vốn Thủy lợi phí: 18 công trình (kênh Giữa, kênh Hạng Hai- Long Bình; kênh Hai Mum, kênh Chín Ngâu, kênh T 10- Thành Công; kênh Bà căn, N8-15, N8-16- Bình Phú; kênh Hai Biếu, Rạch Vách, Cả Chốt- Vĩnh Hựu; kênh Ngân Hàng, cống Sáu Biếu- thị trấn Vĩnh Bình; kênh Phú Quới, kênh Sổ phèn- Yên Luông, kênh Sườn- Thạnh Trị; kênh Rạch lá- Đồng Sơn; hệ thống cống đường tỉnh 877).

- Vốn hỗ trợ sản xuất lúa: 07 công trình (kênh Ba Xiếu, Bình Tân; N8-8- Đồng Thạnh, kênh Hai Tấm- Bình Phú; Cống cầu Làng- Vĩnh Hựu; cống chống úng Long Vĩnh, Thạnh Trị; Đê Bình Trung- Thạnh Nhựt).

- Vốn tín dụng ưu đãi: 03 công trình (đường khu dân cư liên xã Đồng Thạnh - Thạnh Trị; cầu kênh N8- Thạnh Trị, đường Bình hưng - thị trấn Vĩnh Bình).

- Vốn chống hạn mặn: 03 công trình (kênh Ao Dương - Vĩnh Hựu, kênh An Thạnh Thủy - yên Luông, cống điều tiết - Bình Nhì).

- Vốn phòng chống lụt bão: 02 công trình (nhà vệ sinh trú bão long Bình, cầu rạch Đường Trâu).

- Vốn ngân sách huyện: 10 công trình (đường Đội 4 xã Thạnh Nhựt, sửa chữa trụ sở Ủy ban nhân dân xã Thành Công, sửa chữa Ban Chỉ huy Quân sự huyện; sửa chữa nhà làm việc khối Vận, đường Năm Choáng xã Bình Tân, nhà văn hóa xã Thạnh Nhựt, Nhà làm việc Công an xã Yên Luông, nâng cấp chợ cá Đồng Sơn, phòng họp trực tuyến và phòng làm việc Ủy ban nhân dân huyện, hệ thống thoát nước trường Mẫu giáo Vĩnh Bình)

II. VĂN HOÁ - XÃ HỘI, KHOA HỌC CÔNG NGHỆ         

1. Giáo dục -  Đào tạo

Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo tiếp tục ổn định và phát triển về quy mô; chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo các bậc học được giữ vững và ngày càng nâng cao; thực hiện tốt việc đổi mới giảng dạy, kiểm tra đánh giá chất lượng. Mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư bổ sung theo hướng đạt chuẩn quốc gia.

Kết quả chất lượng giáo dục: bậc Tiểu học có 10.613 học sinh lên lớp thẳng, tỷ lệ 99,3%; tốt nghiệp trung học cơ sở 1440/1451 học sinh, đạt 99,24%; tốt nghiệp Trung học phổ thông 880/899 thí sinh dự thi, đạt tỷ lệ 97,88%.

Năm học 2014-2015: huy động vào Nhà trẻ: 11 nhóm, 256/340 trẻ đạt 75,29%; Mẫu giáo 129 lớp, 3.984/4300 học sinh, đạt 92,65% chỉ tiêu (trong đó: trẻ 5 tuổi 1.982/1984 trẻ trong độ tuổi, đạt 99,9%); Tiểu học: 345 lớp, 10.467 học sinh, đạt 100% (trong đó 6 tuổi vào lớp 1: 1938/1938 học sinh, đạt 100%); Trung học cơ sở: 161 lớp 6.658 học sinh, đạt 98,59%.

Công tác chống mù chữ, phổ cập giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở được duy trì và nâng dàn các chuẩn; đã được Ủy ban nhân dân tỉnh kiểm tra công nhận 13/13 đơn vị xã, thị trấn Vĩnh Bình đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Công tác “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” được mở rộng và nâng dần các tiêu chí, số lớp học 2 buổi/ngày tăng.

Về cơ sở vật chất, đã đầu tư xây dựng mới 26 phòng học (mẫu giáo Bình Tân, Thành Công, Long Vĩnh, Tiểu học Đồng Sơn 2), kinh phí 24, 6 tỷ đồng; tính đến nay toàn huyện có 20/44 trường đạt chuẩn Quốc gia (Mầm non 02/16, Tiểu học 17/21, Trung học cơ sở 1/7). Trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục có 03/04 trường đăng ký được đánh giá đạt cấp độ 1 (Tiểu học Thạnh Nhựt 1, Tiểu học Bình Tân 1, Tiểu học Long Vĩnh 1) đến nay toàn huyện có 09 trường đạt kiểm định chất lượng  giáo dục (tiểu học 07, trung học cơ sở 02).

2. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân

Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; tình hình phòng chống dịch bệnh được theo dõi và giám sát thường xuyên nên không xảy ra dịch; tập trung tuyên truyền phòng chống bệnh sốt xuất huyết, sốt rét, quai bị, tay chân miệng, sởi, viêm phổi do virus, cúm A H5N1 và các bệnh về đường ruột. Thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh, quan tâm đối tượng bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh cho người nghèo, đối tư­ợng chính sách xã hội, cho trẻ em dưới 6 tuổi. Trong năm, có 312.244 lượt người đến khám và điều trị; phát hiện điều trị 30 cas sốt xuất huyết (giảm 11 cas so năm 2013); tay chân miệng 85 cas (tăng 32 cas so năm 2013); quay bị 38 cas (giảm 16 cas so năm 2013), thủy đậu 26 cas (tăng 22 cas so với năm 2013).

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường luôn được chú trọng, thường xuyên kiểm tra định kỳ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh; đã phối hợp các ngành có liên quan  tiến hành kiểm tra định kỳ 964 lượt cửa hàng dịch vụ ăn uống, cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm và 38 bếp ăn tập thể trường học, kết quả đạt vệ sinh. Thẩm định cấp giấy đủ điều kiện hành nghề 72 cơ sở y dược; kiểm tra 126 cơ sở hành nghề y, dược tư nhân, đều chấp hành đúng quy định. Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 59 năm ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/02/1955 - 27/02/2014).

3. Dân số, kế hoạch hóa gia đình

Thực hiện tốt công tác truyền thông, tư vấn và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em - kế hoạch hóa gia đình.  Trong năm tổ chức truyền thông trực tiếp, đại chúng được 599 cuộc với 12.060 người tham dự;

Kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai: Đình sản 18/19 đạt 94,74% kế hoạch; vòng 1279/843 đạt 151,72% kế hoạch; thuốc cấy 3/12 đạt 25%; thuốc tiêm 492/434 đạt 113,36% kế hoạch; thuốc uống 7.328/5.310 đạt 138% kế hoạch; bao cao su 2.660/3.205 đạt 83% kế hoạch.

4. Công tác tuyên truyền và các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao

            Thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương. Các hoạt động văn hoá được tổ chức với nhiều hình thức đa dạng, sôi nổi với nội dung phong phú đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, tinh thần của nhân dân, gắn liền với những ngày lễ, sự kiện quan trọng của đất nước, đã tạo điều kiện cho cán bộ công chức, viên chức giao lưu, học hỏi, trang bị thêm kiến thức trên các lĩnh vực, tiếp cận những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước.

Thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, đã hướng dẫn các ấp xây dựng lại quy ước ấp và các xã văn hóa chuyển đổi thành xã văn hóa nông thôn mới. Qua phát động có 33.097/33.097 hộ đăng ký gia đình văn hoá, xét duyệt có 31.607 hộ đạt 3 tiêu chuẩn, tỷ lệ 95,5%. Đến nay trên địa bàn huyện có 66/66 ấp văn hoá; 16 con đường văn hoá; 20 cơ sở thờ tự văn hoá, 2 chợ văn hóa và 05 đạt chuẩn văn hoá nông thôn mới và 01 xã văn hóa.

Hoạt động thể dục thể thao cho mọi người và thể thao thành tích cao được chú trọng, phong trào được duy trì từ huyện đến cơ sở; trong năm, tổ chức được 24 giải thể thao như: Hội thao dân tộc phục vụ lễ hội kỳ yên, giải bóng chuyền mừng đảng mừng xuân; bóng chuyền, bóng đá; quần vợt, Việt dã, Taekwondo, …. Ngoài ra tham dự các hội thao, hội diễn cấp tỉnh, kết quả huy chương vàng, huy chương bạc, huy chương đồng.

Đài Truyền thanh Truyền hình huyện đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các nhiệm vụ chính trị theo Nghị quyết của Huyện ủy, kế hoạch Ủy ban nhân dân huyện; ngoài việc tuyên truyền theo chuyên đề và chương trình được duyệt đài còn tập trung tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn; phản ánh những thuận lợi, khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; nêu gương người tốt việc tốt trên các lĩnh vực, mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế cao để nhân rộng trên địa bàn huyện.

5. Lao động, Chính sách xã hội và giải quyết việc làm

- Chính sách người có công: Thực hiện chế độ kịp thời, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Chủ tịch nước xét phong và truy tặng danh hiệu cho 161 "Mẹ Việt Nam Anh hùng". Cấp 911 thẻ Bảo hiểm y tế cho các đối tượng theo Quyết định 62/QĐ-CP của Chính phủ; đề nghị Sở Lao động, Thương binh và Xã hội giải quyết mai táng phí 64 trường hợp. Vận động quỹ đền ơn đáp nghĩa được 886,7 triệu đồng, đạt 100,2% kế hoạch. Xây dựng và bàn giao 11 căn nhà tình nghĩa; đang triển khai xây dựng 21 nhà cho các đối tượng theo Quyết định 22 của Thủ tướng Chính phủ. Tổ chức lễ cải táng 03 hài cốt liệt sĩ hy sinh chiến trường Campuchia (02 hài cốt cải táng tại nghĩa trang liệt sĩ và 01 hài cốt tại đất nhà).

- Công tác giảm nghèo: Đầu năm toàn huyện 1.912 hộ nghèo, chiếm 5,5%. Trong đó hộ cận nghèo mức 1: 1.305 hộ, hộ cận nghèo mức 2: 403 hộ. Qua thực hiện các chính sách giảm nghèo như: cho vay vốn giải quyết việc làm, hướng dẫn mô hình sản xuất, hỗ trợ nhà ở, thực hiện chính sách an sinh xã hội, chi hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo ở các xã và thị trấn, chi trợ cấp ưu đãi học sinh theo Nghị định 49/NĐ-CP của Chính phủ..; trong năm 2014 có 524 hộ được bình xét thoát nghèo.

          - Bảo trợ xã hội: Lập danh sách mua và phát thẻ Bảo hiểm y tế cho 4.647 đối tượng Bảo trợ xã hội và Người cao tuổi hưởng trợ cấp theo Nghị định số 13/2010/NĐ-CP và 67/NĐ-CP của Chính Phủ; giải quyết mai táng phí cho 266 đối tượng với số tiền 798 triệu đồng. Tổ chức chi trả trợ cấp hàng tháng kịp thời đúng đối tượng cho các đối tượng Bảo trợ xã hội và Người cao tuổi, đến nay đã chi cho 4.621 đối tượng xã hội và người cao tuổi với số tiền là 1.293.678.000 đồng.

-  Về lao động, việc làm: Phối hợp phòng giao dịch ngân hàng Chính sách xã hội huyện giải ngân 199 hồ sơ, tổng vốn 2 tỷ 683 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch vốn; tư vấn, giới thiệu cho 3.024 lao động tìm việc làm ở các khu công nghiệp trong, ngoài tỉnh; lập thủ tục đưa xuất cảnh 22 lao động. Phối hợp với trung tâm dạy nghề và Trung tâm tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề mở 33 lớp dạy nghề ngắn hạn; gồm: phi nông nghiệp 22 lớp, với 817 học viên; 11 lớp nông nghiệp với 465 học viên; đến nay các lớp học dạy nghề ngắn hạn ở nông thôn trên địa bàn huyện đã tổng kết xong.

Qua đánh giá công tác dạy nghề nông thôn cơ bản giúp người lao động có việc làm và được trang bị kiến thức để phục vụ phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho kinh tế hộ. Tuy nhiên trong công tác này còn một số mặt hạn chế đó là việc chiêu sinh của chính quyền cơ sở đôi lúc không đúng đối tượng, thiếu sự quan tâm, phần lớn giao khoán cho cán bộ nông nghiệp và Hội nông dân; một ít học viên sau khi học về không áp dụng cho sản xuất. Về công tác xuất khẩu lao động còn khó khăn, không có đối tượng đăng ký;

- Công tác trẻ em: lập hồ sơ cấp học bổng cho học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn học giỏi, vượt khó nhận học bổng là 2.368 lượt, gồm quà, tiền mặt và 80 xe đạp với tổng số tiền 959.200.000 đồng; tổ chức Tết trung thu cho trẻ em, kinh phí 177.821.000đ (tiền mặt là 41.221.000 đồng), đạt 127,02% kế hoạch.

6. Khoa học, công nghệ

  Thành lập Ban tổ chức hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật cấp huyện. Đăng ký 01  đề  tài ứng dụng khoa học đã được duyệt ‘‘hỗ trợ xây dựng mô hình liên kết sản xuất cây gừng bản địa trồng xen trong vườn dừa đạt hiệu quả kinh tế cao tại xã Vĩnh Hựu’’. Nhìn chung việc chuyển giao ứng dụng khoa học - công nghệ được thực hiện tốt. Tuy nhiên, hoạt động khoa học công nghệ trên địa bàn huyện còn quá ít so với thực tế của địa phương, do các ngành trong huyện ít quan tâm và tham gia làm đề tài.

III. QUỐC PHÒNG - AN NINH

1. Quốc phòng

Tổ chức quán triệt và thực hiện tốt các quy định về sẵn sàng chiến đấu, tuần tra mật phục, giữ vững các địa bàn trọng điểm. Phối hợp với lực lượng Công an và các đơn vị có liên quan triển khai thực hiện tốt các kế hoạch, phương án bảo vệ an toàn tuyệt đối trước, trong và sau các cao điểm, các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước và của địa phương. Duy trì có nề nếp kế hoạch phối hợp hoạt động trị an theo Nghị định 77/2010/NĐ-CP của Chính phủ ở các cấp, góp phần tích cực trong đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, làm nồng cốt giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Xây dựng bổ sung hoàn chỉnh hệ thống kế hoạch trong các trạng thái sàng chiến đấu bảo đảm cho quyết tâm A, A2, A4 theo đúng qui định. Tổ chức diễn tập Phòng chống thiên tai và chiến đấu trị an cho 04 xã Thành Công, Long Bình, Thạnh Trị, Đồng Sơn; kết quả đạt yêu cầu; trong đó xã Thành công thực hiện diễn tập chiến đấu trị an điểm có sử dụng đạn hơi.

Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2014 thực hiện đảm bảo đúng quy trình; kết quả: giao 160/160 tân binh, đạt 100% chỉ tiêu. Tổ chức đón tiếp 188 quân nhân hoàn thành thời hạn phục vụ tại ngũ trở về địa phương. Xây dựng mới lực lượng dân quân gồm 292 đồng chí. Tổ chức Đoàn thẩm tra xã, thị trấn vững mạnh toàn diện năm 2014; kết quả được tái công nhận 13/13 đơn vị đạt tiêu chuẩn.

Tổ chức  tuyên truyền tuyển sinh quân sự cho 03 trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện được 03 cuộc, có 858 học sinh dự. Qua các bước tuyển chọn có 06 em đủ điều kiện dự thi vào các trường trong Quân đội. Kết quả thi đậu 02/06 em đạt 33,33% so với chỉ tiêu tỉnh giao là 15%, vượt 18,33%.

Công tác tập huấn cho các đối tượng 70/70 đồng chí đạt 100% chỉ tiêu; công tác huấn huyện các đối tượng dân quân và dân quân tự vệ 842/842 đồng chí đạt 100% chỉ tiêu; huấn luyện thanh niên sẵn sàng nhập ngũ 523/523 thanh niên, đạt 100% chỉ tiêu. Phối hợp với Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện tổ chức triển khai kế hoạch và tiến hành  bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng – an ninh cho đối tượng 3 được 33/33 đồng chí, đối tượng 4 là 200/200 đồng chí, đối tượng 5 là 298/298 đồng chí; 80 vị chức việc các tôn giáo. Tính đến nay đã bồi dưỡng cho các đối tượng được 611/611 đồng chí đạt 100% so với chỉ tiêu trên giao.

2. An ninh chính trị - Trật tự xã hội

a) An ninh quốc gia

Trong năm có 102 người nước ngoài và 351 người Việt Nam định cư nước ngoài về thăm thân nhân, du lịch và hoạt động từ thiện. Ngành Công an chỉ đạo triển khai thực hiện các biện pháp nghiệp vụ an ninh, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng có liên quan để quản lý, giám sát nắm tình hình, phòng ngừa, phát hiện, giáo dục, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hoạt động của các đối tượng; qua giám sát không xảy ra vấn đề có liên quan đến công tác bảo vệ an ninh chính trị trên địa bàn.

b) Trật tự xã hội

- Phạm pháp hình sự 48 vụ, giảm 13 vụ so cùng kỳ năm 2013. Kết quả điều tra làm rõ 28 vụ, bắt 32 đối tượng, đạt tỷ lệ 58,33%. Tổng giá trị thu hồi khoảng 87,5 triệu đồng, đã trả cho người bị hại.

- Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 14 vụ (giảm 3 vụ); va chạm giao thông xảy ra 54/115 vụ (giảm 61 vụ) so với cùng kỳ năm 2013, số người chết 16/18 người (giảm 02 người), số người bị thương 97/162 người (giảm 65 người).

- Tệ nạn xã hội: triệt xóa 23 tụ điểm; trong đó: cờ bạc 19/08 vụ, mại dâm 04 vụ.  Xử lý: 216 đối tượng.

- Cháy nổ: xảy ra 01 vụ, tài sản thiệt hại 260 triệu đồng, nguyên nhân bất cẩn trong sản xuất kinh doanh.

- Vi phạm pháp luật về môi trường: phát hiện và xử lý vi phạm hành chính 06 vụ.

Trong năm qua huyện đã tập trung thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về đảm bảo an ninh quốc gia; thường xuyên tổ chức các cao điểm tấn công tội phạm, nên tình hình an ninh chính trị ổn định, trật tự xã hội được giữ vững; tai nạn, va chạm giao thông giảm hơn năm trước về số vụ và mức độ thiệt hại. Tuy nhiên, do ý thức cảnh giác của nhân dân trong việc phòng, chống tội phạm còn hạn chế; bọn tội phạm lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác để cướp giật và đột nhập vào nhà trộm tài sản. Việc chấp hành pháp luật ở một bộ phận nhân dân còn kém, nhất là đối với thanh thiếu niên chưa có việc làm, thường tụ tập thành nhóm, tổ chức đánh nhau nên tình hình trật tự - xã hội vẫn còn xảy ra tương đối phức tạp.

IV. HOẠT ĐỘNG THANH TRA - TƯ PHÁP

1. Thanh tra

            Thực hiện tốt công tác thanh tra theo kế hoạch được phê duyệt từ đầu năm và thanh tra theo chỉ đạo của Huyện uỷ, Ủy ban nhân dân huyện. Trong năm tổ chức 07 cuộc thanh tra (gồm 05 cuộc thanh tra trong kế hoạch, 03 cuộc thanh tra ngoài kế hoạch). Qua thanh tra kết luận có 03 vụ vi phạm; kiến nghị xử lý: Thu hồi 102 triệu 379 nghìn đồng và xử lý hành chính 15 cán bộ; đã thu hồi và xử lý xong.

Tiếp 271 lượt công dân đến khiếu nại và phản ánh các quyền lợi có liên quan, giảm 455 lượt so với năm 2013. Tiếp nhận và xử lý 157 đơn (khiếu nại 14, tố cáo 01, tranh chấp 76, lĩnh vực khác 64). Kết quả hướng dẫn chuyển đến ngành, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn Vĩnh Bình 152 đơn; thụ lý giải quyết 05 đơn.

Nhìn chung các cuộc thanh tra ngày càng đi vào nề nếp và chất lượng được nâng cao, có sự kết hợp chặt chẽ giữa Thanh tra huyện và các ngành; có kế hoạch thanh tra cụ thể, sát thực tế; thanh tra đúng quy trình, kết luật chính xác, chặt chẽ; tuy nhiên việc xử lý hành chính sau thanh tra còn chậm.

2. Tư pháp

Thực hiện tốt công tác triển khai, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật theo kế hoạch; đặc biệt la việc tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 thông qua các hình thức tuyên truyền, phổ biến, sớm đưa Hiến pháp đi vào cuộc sống.

Công tác thẩm định văn bản ngày càng đi vào nề nếp, chất lượng ngày càng được nâng cao; việc thẩm định đúng theo thời gian quy định, bám sát nội dung theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Rà soát và công bố 78 văn bản cấp huyện và 302 văn bản cấp xã đã hết hiệu lực thi hành.  Tiến hành tự kiểm tra theo thẩm quyền 98 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã ban hành, qua kiểm tra kiến nghị khắc phục có 08 văn bản sai sót thể thức trình bày văn bản.

         Triển khai tuyên truyền, giáo dục pháp luật được 5.661 cuộc, với 115.066 lượt người tham dự, nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân dân về chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nội dung triển khai gồm: Hiến pháp 2013, Luật Hòa giải, Luật Phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí; Luật Phổ biến giáo dục pháp luật; Luật Phòng, chống khủng bố; Luật phòng cháy, chữa cháy (sửa đổi, bổ sung), Luật Cư trú (sửa đổi, bổ sung), Nghị định số 79/2014/NĐCP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy, chữa cháy và Luật phòng cháy, chữa cháy (sửa đổi, bổ sung); Nghị định số 84/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành chi tiết một số điều của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí... xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện "Ngày pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

Công tác hoà giải cơ sở: Đã hoà giải 221/240 vụ việc, trong đó: Hoà giải thành 162 vụ việc (đạt tỷ lệ 73,3%); không thành và chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết 59  trường hợp.

         Về thi hành án: Tổng số án thụ lý là 1.471 việc; trong đó án cũ chuyển sang 551 việc, số thụ lý mới là 920 việc. Qua phân loại số án đủ điều kiện thi hành 1.206 việc, thi hành xong 933 việc, đạt 77,4%. Chưa có điều kiện thi hành 265 vụ.

V. NỘI VỤ - CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH - PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

1. Nội vụ

- Công tác tổ chức cán bộ: tổng hợp báo cáo kế hoạch biên chế tiền lương các phòng ban chuyên môn và các đơn vị sự nghiệp năm 2014; Quyết định giao biên chế hành chính năm 2014 cho các phòng ban quản lý nhà nước. Thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo kế hoạch; tổ chức nâng ngạch, nâng lương, thi tuyển, xét tuyển và sắp xếp, bố trí cán bộ, công chức và viên chức theo quy định; quyết định hưởng phụ cấp ưu đãi nghề đối với nhân viên y tế trường học; quyết định bổ nhiệm lại lãnh đạo phòng ban chuyên môn và các đơn vị sự nghiệp (Trung tâm văn hóa - Thể thao, Đài truyền Thanh - truyền hình và phòng Y tế; bổ nhiệm mới lãnh đạo phòng Tài chính - Kế hoạch và Giám đốc Ban Quản lý các dự án đầu tư và xây dựng huyện; điều động Phó Trưởng phòng tài chính - Kế hoạch sang Văn phòng Huyện ủy; chấm dứt hợp đồng lao động 01 viên chức sự nghiệp Đài truyền thanh và Truyền hình chuyển sang Hộp liên hiệp phụ nữ huyện. Quyết định chuyển công tác 13 viên chức sự nghiệp giáo dục theo nguyện vọng. Quyết định hưởng chế độ thâm niên nhà giáo cho các viên chức đến hạn; nâng lương, phụ cấp vượt khung cho 532 công chức, viên chức khối hành chính sự nghiệp; Quyết định nghỉ hưu đúng tuổi cho 01 công chức và 17 viên chức sự nghiệp giáo dục năm 2014. Quyết định kiện toàn và thành lập các Ban Chỉ đạo cấp huyện; Quyết định bổ nhiệm mới, bổ nhiệm lại các Trưởng phòng, Phó trưởng phòng các phòng ban chuyên môn.

- Xây dựng chính quyền cơ sở: Công nhận kết quả trúng tuyển cho 12 công chức cấp xã năm 2014; phê chuẩn kết quả bầu bổ sung thành viên ủy ban nhân dân xã Thạnh Trị và Thị trấn Vĩnh Bình. quyết định tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch 06 công chức chuyên môn cấp xã đối với các Phó Chủ tịch dự nguồn Ủy ban nhân dân xã; xếp lương 05 cán bộ chuyên trách, công nhân hết thời gian tập sự 02 công chức chuyên môn; nghỉ việc 27 cán bộ hoạt động không chuyên trách.

- Công tác địa giới hành chính: Báo cáo công tác quản lý địa giới hành chính trên địa bàn huyện giai đoạn 1991 đến tháng 9 năm 2014; Ban hành Công văn chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã báo cáo công tác hồ sơ,  công tác quản lý địa giới hành chính xã và báo cáo hồ sơ, bản đồ và mốc địa giới hành chính trên địa bàn các xã. Quyết định thành lập Tổ công tác khảo sát hồ sơ bản đồ và mốc địa giới hành chính trên địa bàn các xã. Báo cáo Sở Nội vụ kết quả kiểm tra hồ sơ, bản đồ và cột mốc địa giới hành chính  trên địa bàn huyện.

- Công tác Thi đua – Khen thưởng: Tổng kết công tác thi đua năm 2013 và phát động phong trào thi đua kinh tế xã hội và 15 chuyên đề thi đua năm 2014. Khen thưởng các tập thể và cá nhân có thành tích trong các phong trào thi đua trên toàn huyện và hoàn thành nhiệm vụ năm 2014 trên địa bàn huyện.

2. Cải cách hành chính

        Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả cơ chế “Một cửa” tại cơ quan hành chính cấp huyện và cấp xã; triển khai kịp thời các chủ trương, quy định về công tác cải cách hành chính. Ban hành kế hoạch thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính trên địa bàn huyện; tổ chức tổng kết công công tác cải cách hành chính năm 2014 và phát động chuyên đề thi đua “Đẩy mạnh cải cách hành chính năm 2014” đối với các cơ quan ban ngành huyện và Ủy ban nhân các xã, thị trấn Vĩnh Bình; kiểm tra, đánh giá và chấm điểm thi đua chuyên đề “Đẩy mạnh cải cách hành chính năm 2014 đối với các phòng ban chuyên môn cấp huyện và các xã, thị trấn. Kiểm tra giải quyết thủ tục hành chính và sử dụng thời giờ làm việc các phòng, ban huyện và Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn Vĩnh Bình; tổ chức hội thi tì hiểu "cải cách hành chính" cấp huyện năm 2014.

      Tiếp tục vận hành mạng nội bộ của Văn phòng Hội đồng nhân và Ủy ban nhân dân huyện trong tiếp nhận và chuyển tải văn bản của cấp trên chuyển về và ngược lại. Thực hiện chuyển đổi hệ thống chất lượng ISO 9001:2000 sang hệ thống ISO 9001:2008 cấp huyện và các xã thị trấn. Triển khai thực hiện “Văn phòng điện tử” và "Một cửa điện tử cho các phòng ban chuyên môn và Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn Vĩnh Bình.

 Công tác cải cách hành chính năm 2014 có sự tập trung chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện, có sự quan tâm của các ngành huyện và các xã, thị trấn. Tuy nhiên so với nhiệm vụ đề ra có nhiều nơi không hoàn thành đúng thời gian quy định.

3. Công tác Dân vận chính quyền

       Xây dựng kế hoạch tọa đàm dân vận chính quyền ở các xã, thị trấn Vĩnh Bình và các cơ quan hành chính huyện; tổ chức tạo đàm công tác Dân vận khéo- Dân vận chính quyền chuyên đề cải cách hành chính"; kiểm tra chấm điểm thi đua công tác Dân vận chính quyền năm 2014 tại các xã, thị trấn Vĩnh Bình.

4. Phòng chống tham nhũng

     Tổ chức 1.391 cuộc tuyên truyền Luật phòng, chống tham nhũng và các văn bản quy định của pháp luật về phòng chống tham nhũng có 55.915 lượt người tham dự. Thực hiện kê khai minh bạch tài sản, thu nhập đối với lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể cấp huyện và cán bộ chủ chốt cấp xã; tổng số người kê khai là 775 người, đạt tỷ lệ 100%.

            Trong năm xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm tra, giám sát nội bộ nhằm ngăn chặn hành vi tham nhũng trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng.

C. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2014:

Tình hình kinh tế - xã hội năm 2014 trong điều kiện phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức; nhưng Ủy ban nhân dân huyện đã đã bám sát mục tiêu, nhiệm vụ được đề ra trong các Nghị quyết của Tỉnh ủy và Hội đồng nhân dân tỉnh, nên tình hình kinh tế - xã hội năm 2014 đạt được những kết quả tích cực như: tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt kế hoạch đề ra; sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ có bước phát triển; chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra; các giải pháp về tiền tệ, tín dụng - ngân hàng được triển khai thực hiện đúng chỉ đạo của Chính phủ, lãi suất cho vay được điều chỉnh giảm đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân tiếp cận được nguồn vốn tín dụng; thu ngân sách khá cao;... Các lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, giảm nghèo, giải quyết việc làm,…được tập trung lãnh đạo đạt kết quả tốt. Tình hình quốc phòng - an ninh trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững và trong tầm kiểm soát...

Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, khó khăn nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tăng trưởng kinh tế đạt ở mức thấp của kế hoạch, do ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng trưởng thấp hơn so với cùng kỳ năm 2013 nên đã ảnh hưởng đến tăng trưởng chung của huyện; thu nhập bình quân đầu người còn thấp xa so bình quân chung toàn tỉnh; hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn còn khó khăn (thị trường tiêu thụ, tiếp cận thông tin của thị trường, vốn tín dụng,...). Tình hình thời tiết không ổn định đã ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; giá bán một số loại nông, thủy sản không ổn định, các mặt hàng nông sản được mùa nhưng giá thấp; sức mua thấp hơn cùng kỳ; chưa phát triển đa dạng các loại hình thương mại, dịch vụ, xúc tiến đầu tư. Việc đảm bảo an sinh xã hội và trật tự xã hội có mặt vẫn còn khó khăn đã làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị - trật tự xã hội ở địa phương.

Phần thứ hai

MỤC TIÊU CHỦ YẾU, PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI  NĂM 2015

A. MỤC TIÊU NHIỆM VỤ VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Mục tiêu chung: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao và vững chắc hơn năm 2014, khai thác mọi tiềm năng, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực; tăng cường thu hút đầu tư để phát triển các ngành, lĩnh vực, vùng sản xuất gắn với chuyển đổi cơ cấu kinh tế phù hợp,...nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực. Tiếp tục phát triển văn hóa xã hội, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Đẩy mạnh cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng lãng phí. Tăng cường quốc phòng an ninh, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ cơ sở và công tác dân vận chính quyền.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu

a- Các chỉ tiêu về kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng giá trị sản xuất (GRDP) theo giá so sánh năm 2010) tăng 9,44% so năm 2014. GRDP theo giá hiện hành khoảng 5.652 tỷ 687 triệu đồng. Thu nhập bình quân đầu ngưới (GRDP/người) đạt 23 triệu 950 nghìn đồng.

- Cơ cấu kinh tế (GRDP theo giá hiện hành):

            - Khu vực 1:                32,55   %

            - Khu vực 2:                26,40   %

            - Khu vực 3:                41,05   %

 - Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn huyện (giá hiện hành) là 648 tỷ 855 triệu đồng, tăng 51,81% so với năm 2014. Trong đó vốn đầu tư trong các khu vực sản xuất là 332 tỷ 629 triệu đồng, đầu tư từ ngân sách 316 tỷ 226 triệu đồng.

 - Sản lượng cây lương thực có hạt 176.538 tấn, trong đó sản lượng lúa 175.845 tấn và bắp 693 tấn.

 - Giá trị sản xuất nông ngư nghiệp (theo giá cố định 1994) là 707 tỷ 723 triệu đồng; tăng 2,44%.

 - Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng (theo giá cố định 1994) là 415 tỷ 703 triệu đồng; tăng 15%. Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp địa phương là  43 tỉ đồng, tăng 4,62% so năm 2014.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ (theo giá cố định 1994) là 2.320 tỷ 233 triệu đồng, tăng 16,82% so năm 2014.

 - Tổng thu ngân sách từ kinh tế địa phương 45 tỷ 972 tỉ đồng, bằng 104,76% so thực hiện năm 2014.

- Tổng chi ngân sách nhà nước 223.639 tỉ đồng, bằng 77,78% so thực hiện năm 2014; trong đó chi đầu tư phát triển 12 tỉ 733 triệu đồng, chi thường xuyên 208 tỷ 964 triệu đồng.

b- Các chỉ tiêu về xã hội:

- Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 0,6%, giảm tỉ lệ sinh 0,02%.

- Tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh dưới 0,01%.

- Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn 11,6%.

- Duy trì chuẩn quốc gia về chống mù chữ-phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

- Tạo việc làm mới cho 1.251 lao động, trong đó xuất khẩu 15 lao động.

 - Số hộ thoát nghèo trong năm 300 hộ, tỉ lệ hộ nghèo còn dưới 4,5%.

c- Chỉ tiêu môi trường:

- Tỉ lệ dân cư sử dụng nước sạch bình quân 95,69%, trong đó dân cư thành thị sử dụng nước sạch 100%, dân cư nông thôn sử dụng nước sạch 95%.

- Tỉ lệ chất thảy rắn thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn 87%.

            B. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH

I. LĨNH VỰC KINH TẾ

1. Phát triển nông - ngư nghiệp và nông thôn

Phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản theo hướng toàn diện, hiện đại, tập trung vào chất lượng, đẩy mạnh cơ giới hóa; gắn sản xuất với chế biến và thị trường tiêu thụ. Duy trì tăng trưởng, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả và khả năng cạnh tranh nông sản phẩm hàng hóa; đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng trong nước và tham gia xuất khẩu. Nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho nông dân, góp phần thực hiện các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới.

Phấn đấu giá trị sản xuất toàn ngành nông - ngư nghiệp tăng 2,44% so năm 2014 (theo giá cố định 1994); giá trị tăng thêm 2,84%  so năm 2014 (theo giá cố định 1994), cụ thể như sau:

 - Lĩnh vực trồng trọt: phát triển theo hướng sản xuất quy mô lớn, tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị. Tiếp tục áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như: 3 giảm, 3 tăng; 1 phải 5 giảm; công nghệ sinh thái; cơ giới hóa trước, trong và sau thu hoạch. Tiếp tục triển khai các mô hình Cánh đồng lớn sản xuất lúa theo tiêu chuẩn GAP, tổ chức mở rộng khi kết nối các doanh nghiệp. Phấn đấu đạt diện tích lúa 31.000 ha, sản lượng 175.845 tấn; diện tích trồng bắp 210 ha, sản lượng 693 tấn; diện tích rau màu thực phẩm các loại 4.850 ha, sản lượng 86.954 tấn; diện tích dừa 2.040 ha, sản lượng 14.200 tấn; ổn định diện tích cây ăn quả 852,02 ha, sản lượng 29.500 tấn.

- Lĩnh vực chăn nuôi, từng bước chuyển chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại; hướng dẫn chăn nuôi nông hộ theo hình thức công nghiệp, áp dụng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học để hạn chế dịch bệnh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Phấn đấu đạt tổng đàn heo  86.026 con, đàn bò 13.022 con và đàn gia cầm 721.116 con.

- Đối với nuôi thủy sản: tập trung sản xuất thâm canh; tiếp tục đa dạng hóa các đối tượng nuôi, phát triển nuôi theo hướng luân canh, xen canh phù hợp với điều kiện canh tác của từng vùng; mở rộng diện tích nuôi nước ngọt ở các vùng trũng sản xuất nông nghiệp không hiệu quả; tăng cường công tác khuyến ngư, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Phấn đấu diện tích nuôi trồng 860 ha, trong đó diện tích nước ngọt 580 ha, diện tích mặn - lợ 280 ha; sản lượng nuôi 5.160 tấn, tăng 1,18% so năm 2014; sản lượng khai thác 255 tấn, giảm 16,39% so với năm 2014 (trong đó sản lượng khai thác nội địa 140 tấn, sản lượng khai thác biển 115 tấn).

2. Về phát triển nông thôn

a) Thủy lợi:  Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng thủy lợi gắn với phòng tránh lụt bão và giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu; hướng vào phục vụ đa mục tiêu, đảm bảo nhu cầu cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt. Dự kiến nạo vét 53 công trình; với tổng số vốn đầu tư là 24 tỷ 144 triệu đồng (trong đó 18 công trình thủy lợi nội đồng vốn phân cấp năm 2015 với tổng vốn đầu tư là 1,31 tỉ đồng).

b) Giao thông nông thôn: Tiếp tục huy động vốn đối ứng trong nhân dân với vốn mục tiêu của tỉnh để đầu tư xây dựng giao thông nông thôn trên nguyên tắc tự nguyện, ưu tiên chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Dự kiến thi công 42 công trình; kinh phí đầu tư 13 tỷ 366 triệu đồng, trong đó: Vốn chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 4 tỷ 200 triệu đồng, vốn tỉnh phân cấp 4 tỷ 236 triệu đồng, huy động nhân dân 4 tỷ 798 triệu đồng.
c) Phát triển lưới điện: Theo kế hoạch dự kiến thi công 4 km tuyến trung thế 1 pha; xây mới 15,75 km hạ thế; cải tạo 11,80 km hạ thế, lắp đặt 01 trạm biến áp 125 KVA; với tổng vốn đầu tư 7 tỷ 911 triệu đồng. Tiếp tục thực hiện hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo, hộ chính sách theo chủ trương của nhà nước.

d) Nước sinh hoạt nông thôn: Đầu tư nâng cấp các trạm cấp nước sinh hoạt nông thôn thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về môi trường nông thôn; phấn đấu đến cuối năm có 95,69% dân cư sử dụng nước sạch; trong đó dân cư thành thị sử dụng nước sạch 100%, hộ nông thôn sử dụng nước sạch 95%.

3. Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới

Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện, sử dụng và triển khai có hiệu quả các nguồn vốn ngân sách tỉnh, trái phiếu Chính phủ, tín dụng ưu đãi,... Tập trung, chú trọng công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới; giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân nông thôn; đầu tư phát triển giáo dục, y tế và các phúc lợi xã hội ở nông thôn. Phát triển các loại hình sản xuất, dịch vụ ở nông thôn gắn với việc bảo vệ môi trường. Huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tng thiết yếu phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất của người dân. Xây dựng hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và gìn giữ an ninh, trật tự xã hội. Tập trung đầu tư cho 3 xã điểm, để cuối năm 2015 xã Bình Nhì hoàn thành 19/19 tiêu chí (Thạnh Trị, Vĩnh Hựu cơ bản hoàn thành cuối năm 2016).

4.  Phát triển kinh tế hợp tác và Hợp tác xã

Tiếp tục tuyên truyền Luật Hợp tác xã và các Nghị định hướng dẫn thi hành; vận động thành lập mới Hợp tác xã ở những nơi đủ điều kiện. Thực hiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển Hợp tác xã; tạo điều kiện thuận lợi để các Hợp tác xã tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống của cộng đồng xã viên và tham gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Tạo điều kiện để tăng cường mối liên kết giữa các Hợp tác xã, giữa Hợp tác xã với các loại hình kinh tế khác và nhà khoa học nhằm góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất, hỗ trợ kinh tế tập thể phát triển.

5. Tài nguyên, môi trường

- Tài nguyên: Thực hiện kiểm kê đất đai  và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015; thực hiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện giai đoạn 2010 - 2020 và xây dựng kế hoạch sử dụng đất năm 2015; lập Kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh giai đoạn 2016-2020. Tăng cường công tác quản lý đất công, đất bãi bồi theo quy định Luật đất đai. Thực hiện tốt công tác cải cách thủ tục hành chính, một cửa liên thông trong tiếp nhận và giao trả kết quả hồ sơ trên lĩnh vực đất đai. Kiểm tra các thửa đất chưa đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để hướng dẫn hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tiếp tục thực hiện việc cấp đối giấy theo dự án Vlap.

- Môi trường: Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, các Nghị quyết của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Tuyên truyền hướng dẫn hoạt động bảo vệ môi trường; thường xuyên tổ chức kiểm tra tình hình vệ sinh môi trường, xử lý chất thải trong sản xuất, kinh doanh, chăn nuôi, vệ sinh nguồn nước; kịp thời giải quyết khiếu nại về môi trường và xử lý những trường hợp vi phạm theo quy định. Hướng dẫn các xã, thị trấn tổ chức thực hiện tiêu chí về môi trường theo chương trình xây dựng nông thôn mới.

6. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Tiếp tục thực hiện Chương trình khuyến công và Chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; hỗ trợ cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tập trung phát triển các sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm kêu gọi, thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các cụm công nghiệp trên địa bàn nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp tăng trưởng nhanh, bền vững.

Thực hiện giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng là 415 tỷ 703 triệu đồng, tăng 15% so năm 2014. Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp địa phương là 43 tỉ đồng, tăng 4,62% so năm 2014.

7. Thương mại, dịch vụ

a) Thương mại: Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng kênh phân phối, mở rộng thị trường tiêu thụ. Đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", tổ chức Chương trình "Đưa hàng Việt về nông thôn”. Thường xuyên tiếp xúc các doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển kinh doanh. Tăng cường kêu gọi đầu tư kết cấu hạ tầng thương mại; phát triển các hình thức thương mại văn minh, hiện đại phù hợp với quy hoạch.

Tăng cường công tác quản lý thị trường để ngăn chặn buôn lậu và gian lận thương mại, xử lý nghiêm các vi phạm nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, chấn chỉnh mạng lưới lưu thông, phân phối để kiềm chế những biến động giá cả bất lợi đối với những mặt hàng nhạy cảm nhưng vẫn đảm bảo hàng hóa lưu thông thông thoáng, nhất là những mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân.

Duy trì công tác giữ gìn an ninh trật tự, sắp xếp vị trí mua bán của các hộ tiểu thương đúng nơi qui đinh; nâng cáo ý thức trong công tác phòng cháy và chữa cháy, vận động các hộ tiểu thương tự trang bị dụng cụ, phương tiện chữa cháy trong khu vực chợ và thường xuyên kiểm tra các dụng cụ phòng cháy chữa cháy.

Phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội là 2.320 tỷ 233 triệu đồng (theo giá hiện hành); giá trị tăng thêm toàn ngành 20,18% so năm 2014.

b) Vận tải: Tăng cường quản lý và thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng vận tải thủy, bộ; sắp xếp ổn định hoạt động các bến đò, phà, mở rộng vận tải ở nông thôn, vùng sâu, đáp ứng được nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại trong nhân dân. khối lượng vận chuyển hàng hóa là 180.000 tấn tăng 5,88% so với năm 2014, luân chuyển 78,24 triệu tấn/km; vận chuyển 420.000 hành khách, luân chuyển 28,92 triệu hành khách/km, tăng 0,07% so năm 2014.

c) Bưu chính, Viễn thông: Tiếp tục phát triển bưu chính, viễn thông đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện; tăng cường công tác kiểm tra giám sát, nâng cao chất lượng dịch vụ; đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong các cơ quan quản lý nhà nước. Thực hiện phổ cập dịch vụ bưu chính - viễn thông, Internet ở nông thôn.

Triển khai mạng LAN cho Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn, kết nối với mạng chuyên dùng của Ủy ban nhân dân huyện; nâng cấp Cổng thông tin điện tử huyện, triển khai các dịch vụ công trực tuyến. Tiếp tục mở rộng phần mềm ứng dụng Hệ thống quản lý văn bản và điều hành, tích hợp chữ ký số vào trong công tác chỉ đạo, điều hành và quản lý của các cơ quan nhà nước.

7. Tài chính, tín dụng

a) Thu - chi ngân sách huyện (kết quả chi tiết từng nguồn thu, khoản chi năm 2014; dự toán thu chi năm 2015 và những giải pháp điều hành được thể hiện trong báo cáo số     /BC-UBND ngày   /11/2014 gửi kèm cho các đại biểu).

            - Tổng thu ngân sách từ kinh tế địa phương 45 tỷ 972 tỉ đồng, bằng 104,76% so thực hiện năm 2014. Nếu loại trừ thu tiền sử dụng đất 07 tỷ đồng, thì tổng thu ngân sách từ kinh tế địa phương là 38 tỷ 972 triệu đồng, giảm 0,29% so năm 2014.

- Tổng chi ngân sách nhà nước 223.639 tỉ đồng, bằng 77,78% so thực hiện năm 2014; trong đó chi đầu tư phát triển 12 tỉ 733 triệu đồng, chi thường xuyên 208 tỷ 964 triệu đồng.

b) Tín dụng ngân hàng

Tiếp tục thực hiện nghiêm trần lãi suất huy động và lãi suất cho vay ngắn hạn và các chính sách tín dụng theo quy định; thực hiện tốt việc kết nối giữa Ngân hàng với doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Nâng cao chất lượng tín dụng, thường xuyên theo dõi, đánh giá việc sử dụng vốn vay của khách hàng nhằm phát hiện kịp thời những rủi ro và có hướng xử lý thích hợp. Tăng cường xử lý và thu hồi nợ xấu nhằm giảm nợ xấu.

8. Đầu tư xây dựng cơ bản

Căn cứ vào nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng kỷ thuật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương và khả năng cân đối nguồn ngân sách năm 2015; dự kiến phân bổ vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản gồm 20 công trình, tổng vốn đầu tư 19 tỷ 474 triệu đồng; gồm: Vốn phân cấp 04 công trình, kinh phí 5 tỷ 453 triệu đồng; vốn thu tiền sử dụng đất 03 công trình, kinh phí 7 tỷ 267 triệu đồng; vốn sự nghiệp kinh tế 05 công trình, kinh phí 4 tỷ 397 triệu đồng; vốn miễn thu thủy lợi phí 08 công trình, kinh phí 2 tỷ 357 triệu đồng. Ngoài ra trong năm khi được tỉnh phân bổ nguồn vốn chống hạn mặn, hỗ trợ lúa nước và tín dụng ưu đãi giao thông, Ủy ban nhân dân huyện sẽ trình Hội đồng nhân dân huyện trong kỳ họp na năm 2015.

II. VĂN HÓA - XÃ HỘI

1. Giáo dục, đào tạo 

Triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển giáo dục theo kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (Khóa XI) về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.

Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hiệu quả đào tạo ở các cấp học, thông qua việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên theo hướng đạt chuẩn và trên chuẩn. Tiếp nhận vốn chương trình mục tiêu và ngân sách tỉnh tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Mở rộng quy mô phát triển giáo dục mầm non, nâng cao các chuẩn cống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập trung học cơ sở đã đạt từ 1-2%. Đảm bảo tỉ lệ huy động học sinh ra lớp; đẩy mạnh phân luồng học sinh sau trung học cơ sở.

Huy động từ 70-75% trẻ trong độ tuổi Mẫu giáo ra lớp, 100% trẻ 5 tuổi vào Mẫu giáo; 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; 98% học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình Tiểu học vào lớp 6.

Xây dựng thêm 01 trường Mầm non và 01 trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia.

2. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Củng cố hoàn thiện, đồng bộ mạng lưới y tế từ huyện cơ sở; củng cố phát triển nguồn nhân lực; nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ y tế, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng và đa dạng; giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, phục vụ tốt cho công tác khám và điều trị bệnh cho nhân dân; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn, các quy trình kỹ thuật và chăm sóc người bệnh toàn diện; nâng cao y đức, trình độ cán bộ y tế, đấu tranh, đẩy lùi các tiêu cự trong khám, chữa bệnh. Thực hiện công bằng và hiệu quả trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là dịch vụ khám chữa bệnh.

Triển khai tốt các chương trình y tế quốc gia, y tế cộng đồng trên địa bàn; chủ động, tích cực trong giám sát, phòng chống dịch bệnh, xử lý ngay khi phát hiện những ổ dịch nhỏ không để lây lan thành dịch lớn trong cộng đồng.

Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe về vệ sinh an toàn thực phẩm bằng nhiều hình thức; nâng cao ý thức trách nhiệm cũng như nhận thức của người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng thực phẩm; chủ động phòng ngừa ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm; đồng thời xử lý triệt để những trường hợp vi phạm đúng quy định.

 3. Dân số, kế hoạch hoá gia đình

Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh. Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực dân số gắn với cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và giáo dục về dân số, kế hoạch hoá gia đình, nhất là với đối tượng vị thành niên, thanh niên và người dân vùng ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Phấn đấu trong năm 2015 thực hiện đạt 100% chỉ tiêu 4 biện pháp tránh thai hiện đại, giảm tỷ lệ sinh còn 0,02%; giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 0,6%.

4. Văn hóa thông tin, thể dục, thể thao

Tập trung công tác tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các nhiệm vụ chính trị của địa phương để nhân dân hiểu rõ cùng tham gia thực hiện. Nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa - văn nghệ, biểu diễn nghệ thuật, hội thi, hội diễn phục vụ nhu cầu giải trí cho nhân dân, chú ý vùng nông thôn, vùng sâu; phát triển nhiều mô hình câu lạc bộ văn hóa cơ sở.

Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa đến tận xã, ấp và hộ gia đình; phấn đấu năm 2015 có 100% cơ quan đạt chuẩn cơ quan văn hoá; vận động 100% hộ gia đình đăng ký gia đình văn hóa, có 96% hộ đạt 3 tiêu chuẩn; tiếp tục củng cố, nâng chất các ấp văn hóa, xã văn hóa đã được công nhận; phấn đấu xây dựng và ra mắt thêm 01 xã văn hoá nông thôn mới.

Thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa; phối hợp các ngành chức năng tăng cường kiểm tra bài trừ tệ nạn xã hội, ổn định trật tự trên lĩnh vực văn hóa. Nâng cao chất lượng hoạt động Đài Truyền thanh Truyền hình huyện, Trạm Truyền thanh các xã, thị trấn; làm tốt công tác truyền tải thông tin, nêu gương người tốt việc tốt, điển hình tiên tiến về cơ sở.

Khuyến khích và đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động thể dục, thể thao, phát động phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” trong nhà trường, cơ quan, các đơn vị sản xuất kinh doanh; bồi dưỡng tài năng trẻ, nâng cao thành tích thi đấu một số bộ môn thể dục thể thao.

5. Lao động, chính sách xã hội, giải quyết việc làm

- Về lao động, việc làm, tổ chức tốt công tác dạy nghề và nhân rộng mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao nhằm giải quyết việc làm cho người trong độ tuổi lao động không có việc làm góp phần giảm nghèogiảm tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn. Tiếp tục triển khai cho vay vốn hỗ trợ việc làm, đặc biệt chú trọng các dự án thu hút nhiều lao động; đổi mới công tác tư vấn xuất khẩu lao động theo hướng có trọng tâm, chọn lọc phù hợp với thị trường. Từ các nguồn vốn vay, dự kiến giải quyết việc làm mới cho 1.251 lao động; xuất khẩu 15 lao động.

- Về công tác giảm nghèo, tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo; lồng ghép các chương trình, dự án, nhất là đào tạo nghề, nâng cao kiến thức, trình độ tay nghề gắn với các dự án vay vốn ưu đãi cho người nghèo để tạo việc làm tại chỗ; tiếp tục duy trì và nhân rộng các mô hình giảm nghèo có hiệu quả; đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến các mô hình, cách làm hay, sáng tạo, có hiệu quả về giảm nghèo; giáo dục làm thay đổi nhận thức cho hộ nghèo, vận động người nghèo, hộ nghèo chủ động phấn đấu vươn lên thoát nghèo. Bên cạnh đó, thực hiện đầy đủ các chính sách ưu đãi đối với hộ nghèo, người nghèo như: Y tế, giáo dục đào tạo, hỗ trợ học nghề, kết hợp tạo việc làm cho hộ nghèo. Phấn đấu đến cuối năm 2015 giảm 300 hộ nghèo, tỉ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2015 là 4,5%.

- Về chính sách người có công, Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách, chế độ  người có công, đảm bảo đối tượng được thụ hưởng đầy đủ các chính sách ưu đãi; giải quyết các trường hợp còn tồn đọng về xác nhận, công nhận người có công; tiếp tục thực hiện tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trên địa bàn huyện. Thực hiện tốt  việc vận động quỹ đền ơn đáp nghĩa để xây dựng nhà tình nghĩa, thăm hỏi, tặng quà cho đối tượng chính sách và người có công, phụng dưỡng me Việt Nam anh hùng.

- Các lĩnh vực xã hội, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các vấn đề xã hội, giảm dần các tệ nạn, tội phạm; duy trì công tác xây dựng xã, phường không có tệ nạn ma túy, mại dâm gắn với cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các thành viên trong gia đình và toàn xã hội về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Giảm thiểu tình trạng trẻ em bị xâm hại, lang thang, lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Trợ giúp tại cộng đồng những trẻ em không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em lao động sớm… Cấp thẻ khám chữa bệnh cho 100% trẻ em dưới 6 tuổi, hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được đi học.

IV. QUỐC PHÒNG - AN NINH

1. Quốc phòng

Tổ chức quán triệt và nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu; nâng cao chất lượng hiệu quả công tác phối hợp hoạt động, tuần tra kiểm soát theo Nghị định 74-NĐ-CP và Nghị định 77/2010/NĐ-CP của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ An ninh Quốc gia, trật tự an toàn xã hội , giữ vững ổn định tình hình an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, nhất là trong các đợt cao điểm. Tiếp tục quán triệt thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị định 152/2007/NĐ-CP của Chính phủ và Chỉ thị 12/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới. Lãnh đạo, triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự quốc phòng địa phương; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, nhằm tạo cơ sở vững chắc cho xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, có chiều sâu. Tiếp tục triển khai xây dựng cơ quan quân sự vững mạnh toàn diện; xã, thị trấn vững mạnh về quốc phòng - an ninh

Thực hiện chặt chẽ các bước tuyển quân, tuyển dân quân, tuyển sinh quân sự năm 2015 bảo đảm đúng quy trình, có chất lượng, an toàn, tiết kiệm; giao quân đạt 100% chỉ tiêu; tiếp đón chu đáo quân nhân xuất ngũ trở về địa phương.

Tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân, thực hiện đạt chỉ tiêu giáo dục quốc phòng theo phân cấp. Tập trung công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, diễn tập  chiến đấu trị an và phòng chống thiên tai đảm bảo đúng nội dung, chương trình, thời gian đạt yêu cầu.

2. An ninh

Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 28-NQ/TW của ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Kết luận số 86-KL/TW của Bộ Chính trị  về tăng cường sự lãnh đạo công tác đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới, Chỉ thị 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn dân về bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội. Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 09/NQ-CP của Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy; Chỉ thị 18-CT-TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác đảm bảo an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông.

Nâng cao vai trò tham mưu của Công an cơ sở và chất lượng hoạt động của Tổ nhân dân tự quản, vận động quần chúng nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ an ninh Tổ quốc, chủ động tấn công các loại tội phạm, bảo đảm tốt tình hình an ninh trật tự.

Tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh trật tự, quản lý nhân, hộ khẩu, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và công tác phòng cháy chữa cháy trên địa bàn.

V. THANH TRA - TƯ PHÁP

1. Thanh tra

Thực hiện các cuộc thanh tra theo kế hoạch được phê duyệt năm 2015 và các cuộc thanh tra ngoài kế hoạch theo chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện; chú trọng các lĩnh vực phòng chống tham nhũng, quản lý tài chính, quản lý đất công, đầu tư xây dựng các dự án, công trình. Các cuộc thanh tra phải đảm bảo chất lượng, hiệu quả và thực hiện nhanh các kết luận thanh tra. Thành lập Ban tiếp dân huyện; tổ chức tốt công tác tiếp nhận và giải quyết đơn khiếu nại của công dân đúng theo quy định pháp luật; rà soát lại những vụ việc tồn đọng đề xuất cấp thẩm quyền giải quyết dứt điểm; đề cao trách nhiệm giải quyết của các cơ quan hành chính, tạo sự chuyển biến mạnh trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại địa phương. Thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, hỗ trợ cấp xã trong công tác hoà giải để tránh đơn khiếu nại phát sinh.

2. Tư pháp

Rà soát và đề xuất Ủy ban nhân dân huyện huyện có quyết định sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ những văn bản hết hiệu lực thi hành; nâng cao chất lượng soạn thảo, thẩm định, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo khi ban hành đúng quy định, kịp thời, mang tính khả thi.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Phổ biến giáo dục pháp luật, đối mới nội dung và hình thức phổ biến, tuyên truyền cho phù hợp với từng đối tượng.

Rà soát, phân loại án, tập trung thi hành dứt điểm những vụ, việc có điều kiện, giảm mạnh số vụ tồn đọng và giải quyết kịp thời các khiếu nại trong thi hành án.

VI. CÔNG TÁC ĐIỀU HÀNH, XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

1. Công tác cán bộ: Tiếp tục kiện toàn, củng cố nâng cao chất lượng hoạt động cán bộ cấp xã; tiếp tục chuẩn hóa, tuyển dụng cán bộ cấp xã, đã qua đào tạo vào các ngạch chuyên môn; khảo sát, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng. Thực hiện sắp xếp cán bộ theo Đề án xác định vị trí việc làm, biên chế và cơ cấu công chức theo ngạch đối với cơ quan hành chính và triển khai việc xác định vị trí việc làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập; triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch cải cách chế độ công vụ, công chức giai đoạn 2013-2015.

2. Công tác cải cách hành chính: Tiếp tục thực hiện chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2015- 2020. Tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước; nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông; tổ chức, kiện toàn lại bộ phận tiếp nhận trả kết quả thuộc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện theo hướng chuyên trách, tập trung; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước; từng bước được nâng cao chất lượng dịch vụ công; triển khai thực hiện “một cửa điện tử” cho tất cả các xã trong huyện. Nâng cao hiệu quả việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 nhằm làm công cụ đắc lực cho công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước.

3. Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: Tiếp tục triển khai, thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng chống tham nhũng đền năm 2020, Nghị quyết 82/NQ-CP ngày 06/12/2013 của Chính phủ về chương trình hành động thực hiện Kết luận 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương  Đảng khóa XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí giai đoạn 2013-2016. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền Luật Phòng chống tham nhũng, luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cho cán bộ và nhân dân; nêu cao vai trò trách nhiệm, tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm gắn với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; công khai minh bạch về quy hoạch, tài chính, bố trí cán bộ… thông qua việc giám sát của cộng đồng. Thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, viên chức theo Nghị định 158/NĐ-CP của Chính phủ.

4. Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; ý thức trách nhiệm và việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của các thành viên Ủy ban nhân dân huyện, Thủ trưởng các cơ quan, ban ngành huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, thị trấn trong việc thực hiện các chỉ đạo của cấp trên.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đề cao vai trò trách nhiệm người đứng đầu trong lãnh đạo điều hành nhiệm vụ chính trị của ngành và địa phương thuộc phạm vi quản lý. Thực hiện tốt quy chế phối hợp với Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện và mối quan hệ với các đoàn thể, các tổ chức xã hội trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân.

Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong tuyên truyền vận động, tạo đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trên đây là cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015 của Ủy ban nhân dân huyện Gò Công Tây./.

Tin liên quan

Liên kết Liên kết